English T r a n g  N h à     |   G i ớ i  T h i ệ u   |   T r u y ề n  T h ừ a   |   Đ ạ o  S ư   |   G i á o  P h á p   |   P h á p   Â m  

 

  Sitemap

 Webmaster
 

 
 

 
 
 
December 18, 2007




Ḍng Truyền Thừa Sakya

Sakya có nghĩa là  Đất Màu Xám hay ḍng truyền thừa Lam Thổ... Ngài Sakya Trizin đời thứ 41 hiện là Pháp Vương nắm giữ ḍng truyền thừa...


Những giáo huấn của các ḍng Kadampa, Kagyu Sakya (thế kỷ 11) và Gelug (thế kỷ 14)  đều được xem như là thuộc Tân Phái Dịch Thuật (New Translation School) trong khi những giáo huấn của ḍng Nyingma (thế kỷ 8-9) thuộc về Cựu Phái Dịch Thuật (Old Translation School). 

Quư Tộc Họ Khon và Khon Lui Wangpo Sunga
Từ thế kỷ tứ 8 đến nay, ḍng họ Khon nổi danh là  ḍng dơi quư tộc ở miền Nam xứ Tây Tạng.  Trong gia tộc họ Khon,  Khon Lui Wangpo Sunga là một trong bảy người Tây Tạng đầu tiên đă  đuợc thọ giới tỳ kheo dưới triều đại của vua Trisong Detsen và đă tu tập miên mật dưới sự hướng dẫn của đại đạo sư Liên Hoa Sanh. Cả ḍng họ Khon đều là những đại thí chủ và hành giả theo truyền thống Nyingma tại vùng Tsang.

Đến thế kỷ thứ 11, truyền thống Nyingma tại vùng Tsang gặp nhiều biến thoái. Vị trưởng gia tộc họ Khon lúc bấy giờ, Khon Konchog Gyalpo, đă quyết định đi tầm thầy học đạo và đă có duyên hội ngộ với các vị Drogmi, Bari Mal.

Drogmi và Những Giáo Huấn Của Đại Thành Tựu Giả Virupa
Ngài Drogmi là một một dịch giả và hành giả danh tiếng đă  tu học  suốt mười tám năm tại Ấn Độ với đại học giả Shantipa tại đại học viện Vikramashila.  Một trong những giáo huấn quan trọng nhất mà ngài Drogmi đă thọ nhận và đă truyền lại cho vị trưởng tộc Khon Konchong Gyalpo chính là các giáo huấn của Mật Điển Hô Kim Cương (Hevajra Tantra) và giáo huấn Lamdré - Đạo và Quả. 

Trải qua nhiều thế hệ truyền thừa, ngài Shantipa đă thọ nhận những giáo huấn về Hô Kim Cương và Lamdré  từ đại thành tựu giả Virupa, là một trong 84 vị đại thành tựu giả du già lừng danh nhất xứ Ấn.  Ngài Virupa đă sống gần suốt cuộc đời ḿnh ở tại  đại học viện Nalanda, ban ngày giảng dạy về hiển giáo và các giáo huấn của truyền thống Nguyên ThuỷĐại Thừa, nhưng ban đêm ngài bỏ giấc ngủ hằng đêm để tu tập theo các pháp tu của Mật Thừa, nhất là tŕ tụng mật chú của vị Hộ Phật Vajravarahi (Tib. Dorje Phagmo). Đến năm ngài 71 tuổi th́ Virupa mới đạt được những  chứng đắc viên măn; ngài lang thang khắp nơi như một hành giả du già và bắt đầu giảng dạy về các giáo huấn của Hô Kim Cương và Lamdré. 

Giáo Huấn Lamdré - Đạo và Quả
Lam có nghĩa là con đường  dré có nghĩa là kết quả.  Lamdré, theo nghĩa đó có nghĩa là Đạo và Quả.  Con đường ở đây bao gồm tất cả những pháp tu mà hành giả cần miên mật hành tŕ để đưa hành giả đến giác ngộ, và quả ở đây chính là Phật quả, là trạng thái chứng đắc vô ngă, đạt đến giác ngộ tối thượng.

Lamdré  dựa trên hệ giảng của  Hô Kim Cương Chánh Văn Mật Điển (Hevajra Root Tantra) và được chia ra làm hai phần:

(1) Phần thứ nhất bao gồm ba giáo huấn về tri kiến (Three Visions) và các giáo huấn thông thường thuộc về hiển giáo dành cho tất cả đại chúng, gồm có các khế kinh, các giáo huấn về Vi Diệu Pháp (Abhidharma), về giới luật, cùng với các giáo lư của Đại Thừa.

1) Phần thứ hai bao gồm ba giáo huấn thuộc về mật giáo, gồm có các pháp tu thuộc Nhân Mật Điển (Casual Tantra), Đạo Mật Điển (Path Tantra) và Quả Mật Điển (Result or Fruition Tantra).  Quả ở đây chính là trạng thái chứng đắc Đại Thủ  Ấn (Mahamudra) tối thượng; khi ấy, kiến của hành giả trở nên kiến thuần tịnh, hành giả nh́n thấy tất cả chúng sinh đều là Phật, và Sinh Tử và Niết Bàn hoàn toàn không khác biệt.

Tổ Khon Konchog Gyalpo và tu viện Sakya đầu tiên
Hết ḷng tin tưởng và tu tập theo giáo huấn truyền thừa từ Virupa và Drogmi Lotsawa,  vị tộc trưởng Khon Konchog Gyalpo đă cho xây dựng tu viện đầu tiên của ḍng Sakya vào năm 1073 tại một vùng đất ở Tsang.  Người ta gọi vùng đất ấy là  Sakya, có nghĩa là "đất màu xám."    Do đó mà ḍng truyền thừa Sakya mới mang danh hiệu là ḍng truyền thừa ở vùng đất xám hay ḍng "Lam Thổ"-- cái tên "Lam Thổ" ấy  đă gắn liền với những nổi trôi trong quá tŕnh lịch sử của ḍng Sakya qua suốt bao thế kỷ cho đến ngày hôm nay.

Ngoài ra, ḍng Sakya c̣n có thêm ba chi phái nữa là các chi phái Ngor, Tsar  và Dzongpa do các vị đạo sư Ngorchen Kunga Zangpo (1382-1457), Tsarchen Losel Gyatso (1502-1556), và  Dzongpa Kuna Namgyal (1432-1496) khai lập.

Năm Vị Đại Trưởng Lăo Sakyapa
Trong lịch sử ḍng truyền thừa Sakya, có tất cả năm vị đại trưởng lăo Sakyapa là những vị đạo sư đă đóng một vai tṛ cực kỳ quan trọng trong công cuộc hoằng dương Phật Pháp, bảo tồn và phát triển những giáo huấn quư báu mà ngài Virupa và Sơ Tổ Drogmi đă truyền giảng.  Năm vị đại trưởn lăo Sakyapa đó là:

Ï Sachen Kunga Nyingpo (1092-1158)
Trưởng lăo Sachen Kunga Nyingpo là con trai của ngài Khon Konchog Gyalpo. Qua rất nhiều nỗ lực của ngài mà hằng trăm pho kinh thuộc về hiển giáo và mật giáo đă được chuyển dịch qua Tạng ngữ, kể cả những tài liệu thuyết giảng khẩu truyền cũng đă được sưu tập và ghi chép lại, dùng làm tài liệu tu tập của ḍng Sakya sau này.Một lần nọ, ngài Sachen Kunga Nyingpo cũng đă có linh kiến của đức Văn Thù Sư Lợi và đă trực tiếp thọ giáo với ngài về giáo huấn có tên là "Xa Lià Bốn Tham Ái" (Parting from Four Attachments).

Ï Lobpon Sonam Tsemo (1142-1182)
Trưởng lăo Lobpon Sonam Tsemo
là đệ tử của ngài Chapa Chökyi Sengé (1109-1169). Ngài Chapa Chokyi Sengé tu tập theo phái Svatantrika là một tiểu phái dựa trên các triết lư về Trung Quán Luận (Madhyamika) của ngài Long Thọ (Nargajuna).  Ngài và đă trước tác một luận giải rất nổi tiếng về Hành Bồ Đề Tâm Luận (Bodhiaryavatara).

Ï Jetsun Dakpa Gyaltsen (1174-1216)
Trưởng lăo Jetsun Dakpa Gyaltsen là con trai của ngài Sachen Kunga Nyingpo và là em trai của Lobpon Sonam Tsemo.  Ngài là người đă trước tác một tài liệu luận giảng rất nổi tiếng về giáo huấn "Xa Lià Bốn Tham Ái" mà cha của ngài, ngài Sachen Kunga Nyingpo, đă được đức Văn Thù truyền dạy trong một linh kiến trong khi tham thiền.

Ï Sakya Pandita (1182-1251)
Trưởng lăo Sakya Pandita là cháu trai của ngài Jetsun Dakpa Gyaltsen, chú của ngài Chogyal Phakpa, và là một trong những vị đại học giả lỗi lạc nhất trong lịch sử Tây Tạng.  Người Tây Tạng tin rằng, đức Văn Thù đă ứng thân trong ba vị đạo sư và học giả lỗi lạc của Tây Tạng, gồm có các ngài Longchen Rabjam, Sakya Pandita va Tsongkhapa. Danh tiếng và tài năng của ngài Sakya Pandita vang lừng khắp nơi, qua đến  tận Trung Hoa Mông Cổ. Vào năm 1249, ngài được triều đ́nh Mông Cổ tấn phong làm Tổng Trấn (viceroy) xứ Tây Tạng.

Ï Chogyal Phakpa (1235-1280)
Trưởng lăo Chogyal Phakpa là cháu trai của ngài Sakya Pandita. Vào thời đại của ngài, ḍng truyền thừa Sakya nắm giữ quyền bính tại Tây Tạng và ngài Phakpa cũng được Mông Cổ phong làm Tổng Trấn. Đây là thời đại huy hoàng nhất của Sakya và Phật Giáo Tây Tạng đă được truyền bá qua Trung Hoa Mông Cổ.

 

Ï  Phần giới thiệu được biên soạn dựa trên tài liệu tham khảo.

 

 

 


 

 

 




Virupa


Sachen Kunga Nyingpo


Lhopon Sonam Tsemo


Jetsun Drakpa Gyaltsen


Chogyal Phakpa


Sakya Pandita

Ï Ï Ï  

Ḍng Sakya
Lịch Sử Tóm Lược

 
  Khoảng Thể Kỷ 8-10
 
Đại Thành Tựu Giả Virupa
tại Ấn Độ


  993-1077
 
Sơ Tổ Drogmi
 
  1034-1102

 
Konchog Gyalpo tức  Sakya Trizin đời thứ Nhất

 1
073
 
Tổ đ́nh của ḍng Sakya được Konchog Gyalpo thiết lập tại vùng Tsang

 
1092-1158
 
Đạo sư Kunga Nyingpo
truyển dạy giáo huấn Lamdre

1182-1251
 
Đại Đạo Sư Sakya Pandita

  1260
 
Tây Tạng buộc phải thuần phục Thành Cát
Tư Hăn


  1235-1280
Đại đạo Sư Phakpa
 
 
 1249

 
Sakya Pandita được triều đ́nh Mông Cổ tấn phong làm Tổng Trấn xứ Tây Tạng

 
1253
 
Phakpa được Hốt Tất Liệt tấn phong Tổng Trấn

1354
 
Tranh chấp giữa phái Sakya và phái Kagyu; phái Kagyu và Phagmodrupa lên nắm
quyền bính

1358
 
Đại sư Changchub Gyaltsen (Kagyu) nắm quyền

Ï Ï Ï
 



Tài Liệu Tham Khảo

Reginald Ray, Indestructible Truth: The Living Spirituality of Tibetan Buddhism (2000)
Reginald Ray, Secret of the Vajra World: The Tantric Buddhism of Tibet (2001)
  Trang nhà:
www.hhthesakyatrizin.org
www.nalandabodhi.org

www.sakya.net/html/sakya-lineage.html
www.simhas.org/sakya.html
www.tibet.com/Buddhism/sakya.html
 


Viet Nalanda Foundation, Inc.  © 2009         Nguyện tất cả chúng sinh đều được lợi lạc.   Nguyện thiện hạnh luôn luôn tăng trưởng.        Om Mani Padme Hung